5.7.11
1.7.11
Nga chuẩn bị đóng tàu sân bay hạt nhân
Hãng thông tấn RIA Novosti hôm nay (30.6) dẫn thông tin từ Tập đoàn đóng tàu Liên bang Nga cho biết, nước này sẽ hoàn thành hàng không mẫu hạm chạy bằng năng lượng hạt nhân đầu tiên của nước này vào năm 2023.
"Chúng tôi sẽ bắt đầu thiết kế tàu sân bay của Nga vào năm 2016, và đến năm 2018, chúng tôi có thể sẽ bắt đầu đóng nó", Tổng giám đốc tập đoàn trên, ông Roman Trotsenko nói.
Cũng theo ông Trotsenko, quá trình đóng con tàu sân bay này có thể kéo dài 5 năm và dự kiến nó sẽ được hoàn thành đưa vào phục vụ trong lực lượng hải quân Nga vào năm 2023.
Hiện Nga chỉ có một tàu sân bay đang hoạt động nhưng chạy bằng động cơ hơi nước là hàng không mẫu hạm Đô đốc Kuznetsov. Chiếc tàu này được khởi động vào năm 1985 ở thời Liên Xô và phải đến đầu những năm 1990, nó mới chính thức đi vào hoạt động và hiện được triển khai trong Hạm đội Biển Bắc.
Được biết, vào ngày 17.6 qua, Nga cũng ký bản hợp đồng mua hai chiếc tàu sân bay chở trực thăng loại Mistral của Pháp. Bản hợp đồng trị giá 1,1 tỉ euro (khoảng 1,6 tỉ USD) được ký kết giữa tập đoàn quân sự Rosobornexport của Nga với hãng đóng tàu chiến DCNS của Pháp, theo AFP.
Tàu sân bay Mistral có thể chở 16 chiếc trực thăng với 6 chiếc hoạt động cùng lúc, 4 chiếc tàu đổ bộ, 70 xe bọc thép và thủy thủ đoàn 160 người. Nó bao gồm cả một bệnh viện 69 giường.
Nga sẽ bắn thử tên lửa trên tàu ngầm tối tân nhất
Tàu ngầm hạt nhân lớp Borey 1 Yuri Dolgoruky vừacó đợt bắn thử lần đầu tiên tên lửa Bulava - Ảnh: Reuters
Hải quân Nga dự kiến sẽ bắn thử tên lửa liên lục địa Bulava từ tàu ngầm hạt nhân chiến lược Alexander Nevsky vào cuối năm nay, hãng thông tấn RIA Novosti dẫn lời Đô đốc Vladimir Vysotsky của Hải quân Nga cho biết hôm 30.6.
Alexander Nevsky là tàu ngầm hạt nhân lớp Borey 2 hiện đại nhất của Nga, hiện đang được hoàn thành các công đoạn cuối tại xưởng đóng tàu Sevmash ở miền bắc nước này.
"Trong năm nay, chúng tôi sẽ bắn thử tên lửa Bulava lần đầu tiên từ Alexander Nevsky - tàu ngầm thứ hai được chỉ định sẽ sở hữu loại tên lửa này", ông Vysotsky cho biết tại Triển lãm Quốc phòng hàng hải quốc tế lần 5 (IMDS-2011) tại Petersburg.
Trước đó, vào ngày 28.6 vừa qua, Nga cũng đã bắn thử thành công tên lửa Bulava từ tàu ngầm hạt nhân lớp Borey 1 có tên Yuri Dolgoruky tại vùng biển Bạch Hải. Theo AP, tên lửa đã bắn trúng mục tiêu ở khoảng cách khoảng 5.500 km.
Được biết, tên lửa liên lục địa Bulava (NATO gọi là SS-NX-30) được xem sẽ là vũ khí chiến lược hàng đầu của quân đội Nga trong thời gian tới.
Nó có tầm bắn hơn 8.000 km và có thể mang đến 10 đầu đạn hạt nhân. Bulava gồm ba tầng và được thiết kế nhằm trang bị cho thế hệ tàu ngầm hạt nhân lớp Borey tối tân của Nga.
Tính luôn đợt bắn thử thành công hôm 28.6 thì Bulava đã có tổng cộng 15 lần được thử nghiệm, tuy nhiên chỉ mới 8 lần bắn thành công.
Dự kiến Nga có kế hoạch bắn thử thêm bốn lần nữa trước khi chính thức trang bị cho quân đội vào cuối năm 2011.
Russia to start supplying submarines in Vietnam in 2014
Russia will start supplying Kilo class diesel submarines to Vietnam in 2014, a representative of state-run arms exporter Rosoboronexport said on Friday.
The submarines are equipped with "Club-S cruise missile systems," Oleg Azizov said.
Russia and Vietnam signed a $3.2-billion contract on the delivery of submarines in December 2009 during the visit of Vietnamese Prime Minister Nguyen Tan Dung to Russia. This is the largest deal in the history of Russian exports of naval equipment.
Kilo class submarines, nicknamed "Black Holes" for their ability to avoid detection, are considered to be among the quietest diesel-electric submarines in the world.
The submarine is designed for anti-submarine warfare and anti-surface-ship warfare, and also for general reconnaissance and patrol missions.
The vessel has a displacement of 2,300 tons, a maximum depth of 350 meters (1,200 feet), a range of 6,000 miles, and a crew of 57. It is equipped with six 533-mm torpedo tubes.
At least 29 Kilo class subs have been exported to China, India, Iran, Poland, Romania and Algeria.
24.6.11
20.6.11
Đoàn Tên lửa Phòng không S: Làm chủ dàn tên lửa tối tân S-300PMU1
Kíp chiến đấu hiệp đồng tác chiến. Sĩ quan phóng tên lửatrên xe sẵn sàng khai hỏa
Đài ra-đa chiếu xạ và điều khiển ở trạng tháichiến đấu
Trung úy Mai Hoàng Dũng - Lái xe kiêm trắc thủ bệ phónglàm công tác chuẩn bị chiến đấu
Thượng úy Trần Quang Hải - Phân đội trưởng Phân độira-đa chỉ huy kíp chiến đấu
Hệ thống ra-đa hoạt động với nhiều ưu điểm nổi trộicó thể kiểm soát cả vùng rộng lớn trên lãnh thổ
Xe bệ phóng triển khai chiến đấu
Trắc thủ bệ phóng triển khai cọc đất bệ phóng
Ngay cạnh buồng lái của xe là hệ thống nút điều khiển đểlái xe sẵn sàng tác chiến
Tuổi Trẻ Online giới thiệu phóng sự ảnh cận cảnh, cụ thể hơn về hệ thống vũ khí này cũng như hoạt động làm chủ trang bị, khí tài hiện đại của chiến sĩ phòng không không quân, đảm bảo ngăn chặn mọi cuộc tập kích bằng đường không vào VN, kể cả từ hướng biển…
Hệ thống tên lửa S-300PMU1 của Nga được thiết kế riêng cho VN là một trong những vũ khí tối tân không chỉ của Quân đội VN mà còn được đánh giá rất cao trên thế giới. Hiện nay, hệ thống này được Đoàn Tên lửa Phòng không S (Quân chủng Phòng không - Không quân) quản lý phục vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu.
Thượng tá Lê Văn Thanh - Đoàn trưởng Đoàn tên lửa S cho biết: “S-300PMU1 được đánh giá rất cao trong việc phòng thủ. Tuy với hệ thống phương tiện nặng hàng chục tấn nhưng từ lúc báo động đến lúc chiến đấu chỉ vẻn vẹn tính bằng phút”.
Với khả năng triển khai “siêu nhanh” và hệ thống ra-đa chống nhiễu cực tốt, hỏa lực mạnh, tác chiến trong mọi địa hình, thời tiết, S-300PMU1 còn được thiết kế với hệ thống phòng không di động đa kênh, có thể tác chiến độc lập hay tác chiến hợp đồng thông qua các hệ thống khí tài chỉ huy đồng bộ.
Đặc biệt, nó có khả năng theo dõi hàng trăm mục tiêu khác nhau và tấn công đồng thời 6 mục tiêu cùng một lúc. S-300PMU1 có thể chống các cuộc tiến công ồ ạt ở mọi độ cao, tốc độ và chế áp hiệu quả hệ thống điện tử mạnh của các loại phương tiện chiến đấu đường không hiện đại, thế hệ mới.
S-300PMU1 tiêu diệt mục tiêu bay có vận tốc từ 1.800-2.800m/giây, thời gian sẵn sàng phóng đạn từ khi đài điều khiển bắt được mục tiêu được giao chỉ trong vòng 5 giây. Với những tính năng vượt trội đó, S-300PMU1 trở thành nỗi kinh hoàng của mục tiêu trên không mỗi khi rời bệ phóng vì có thể tiêu diệt cả máy bay tàng hình, tên lửa đạn đạo... cách mục tiêu cần bảo vệ rất xa.
Ngay từ khi được trang bị, cán bộ, nhân viên của Đoàn Tên lửa Phòng không S đã làm chủ hệ thống vũ khí, khí tài tối tân này và xây dựng phương án luyện tập, tác chiến phù hợp với cách đánh truyền thống của quân đội ta; luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, nắm thế chủ động để Tổ quốc không bị bất ngờ trong mọi tình huống.
Tuổi Trẻ
28.5.11
Hải quân Mỹ chế tạo siêu vũ khí
Đại bác laser có thể đánh chặn tên lửa hoặc bắn hạ máy bay
trong chớp mắt Ảnh: Dvice.
Ông Roughead đã chỉ đạo các nhà khoa học công tác tại Phòng Nghiên cứu Hải quân của Hải quân Mỹ nghiên cứu sâu về công nghệ laser để chế tạo ra súng đại bác bắn đạn năng lượng điện từ với tốc độ nhanh gấp 5 lần tốc độ âm thanh (trong không khí khô ở nhiệt độ 20 độ C, vận tốc âm thanh là 343,2 m/s, tương đương 1.236 km/h), làm nóng chảy lớp thép dày trong vòng vài giây. Các nhà khoa học nói rằng, đến năm 2020, tàu chiến Mỹ có thể được trang bị đại bác laser có năng lượng ở mức kilowatt, thậm chí megawatt.
Theo ông Roughead, việc phát triển đại bác laser cho tàu chiến, đặc biệt là hàng không mẫu hạm trị giá hàng tỉ USD, rất hữu ích vì tàu có thể đến gần bờ biển hoặc tàu đối phương mà không bị tên lửa địch bắn hạ. Đại bác laser chỉ cần gắn vào máy phát điện của tàu, không phải nạp đạn nên dễ dàng đánh chặn tên lửa đang bay tới.
Tập đoàn Công nghiệp và Khoa học Hàng không Vũ trụ Trung Quốc mới đây thông báo kế hoạch hoàn thành việc chuyển giao tên lửa thế hệ mới có tầm bắn 4.000 km cho quân đội Trung Quốc trong năm 2015. Loại tên lửa này có thể tiêu diệt từ xa mục tiêu trên đất liền, trên không, trên biển, trong đó có tàu sân bay.
Về máy bay không người lái, Hải quân Mỹ coi trọng nhất loại máy bay chiến đấu X47B bay thử hồi tháng 2 và có thể được sử dụng rộng rãi từ năm 2018. X47B có thể hạ cánh, cất cánh từ tàu sân bay. “Không gì khiến tôi phấn khích hơn loại máy bay không người lái này”, Đô đốc Roughead nói.
Ngoài ra, BAMS, một loại máy bay giám sát tầm xa, sẽ phục vụ Hải quân Mỹ từ năm 2015. Fire Scout, loại trực thăng không người lái tương tự của Mỹ, có nhiều bộ cảm biến cũng như camera đã được sử dụng để theo dõi những kẻ buôn lậu ma túy ở châu Mỹ Latin và mới đây hoạt động trên chiến trường Afghanistan.
Hải quân Mỹ đang phát triển tàu ngầm không người lái Manta
để thu thập thông tin tình báo Ảnh: Xray Mag.
Về tàu ngầm, ông Roughead nói rằng, Hải quân Mỹ nên có loại tàu hoạt động dưới nước trong vòng 60-70 ngày, được phóng đi từ tàu chiến đấu ven biển hoặc tàu khu trục, bơi khoảng 13.000 km mà không phải quay lại tàu mẹ. Loại tàu ngầm không người lái này được lắp nhiều loại vũ khí hoặc bộ cảm biến, có nhiệm vụ thu thập thông tin tình báo, rà phá thủy lôi, tấn công tàu có người lái của đối phương…
Tàu ngầm không người lái của Hải quân Mỹ hiện nay chủ yếu được dùng để gỡ thủy lôi và hoạt động trong cự ly ngắn (tối đa 222 km). Columbia Group, một nhà thầu quốc phòng Mỹ, đã thử nghiệm một số tàu ngầm không người lái, nhưng hệ thống đẩy và năng lượng của chúng chưa đáp ứng mong muốn của Đô đốc Roughead.
Thái An
(theo Wired, Global Times - báo Tiền Phong)
25.5.11
10.5.11
Đua nhau sắm tàu sân bay
Chiến đấu cơ Rafale được nạp tên lửa trên tàu sân bay
Charles de Gaulle của Pháp ngày 27-3. Chi phí cho
mỗi giờ hoạt động của tàu sân bay hiện là 50.000 euro,
chi phí mỗi giờ bay của Rafale là 40.000 euro...
Sau hơn một tháng rưỡi tham chiến ở Libya, nước Pháp
đã mất 50 triệu euro - Ảnh: Reuters
Các chuyên gia quân sự vẫn còn tranh cãi về vấn đề sử dụng tàu sân bay. “Những gì mà các quốc gia không nhận ra là nhiệm vụ duy trì hoạt động các tàu sân bay rất phức tạp và tốn kém nhiều chi phí” - nhà phân tích quân sự Mỹ Nate Hughes nhận định. Còn nhà nghiên cứu quân sự Benjamin Frideman nhận định: “Những công nghệ vũ khí quân sự hiện đại có thể tìm diệt các tàu sân bay dễ dàng, thậm chí từ khoảng cách rất xa. Công nghệ tàu sân bay sẽ không thể tồn tại được trong vài thập kỷ tới”.
Nhưng đó là nhận định của các chuyên gia, còn thực tế các quốc gia vẫn đua nhau phô trương sức mạnh bằng các căn cứ quân sự di động trên biển ngày càng hiện đại hơn.
“Tất cả chỉ để phô trương sức mạnh quân sự” - theo chuẩn đô đốc Philippe Coindreau, chỉ huy hạm đội Pháp đang tham gia chiến dịch không kích vào Libya. Tuy nhiên, “tàu sân bay rất thích hợp cho các cuộc xung đột” - ông Coindreau phân tích khi trả lời phỏng vấn AP trên tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân Charles de Gaulle có trọng tải 42.000 tấn.
Lee Willett, người đứng đầu chương trình nghiên cứu hàng hải ở Viện Quân sự thống nhất hoàng gia (Anh), cho biết cuộc chiến ở Libya minh họa cho sự hữu ích của các tàu sân bay để giải quyết xung đột trong khu vực. Pháp, Ý và các nước NATO rất gần với bờ biển Bắc Phi, chọn cách triển khai các tàu sân bay mặc dù các nước này có căn cứ không quân ở những vị trí rất thuận lợi để can thiệp quân sự ở Libya.
“Ở khắp nơi trên thế giới, phần lớn các lực lượng hải quân đều mong muốn có được sức mạnh không quân trên biển. Những nước này không muốn trở thành các cường quốc trên thế giới nhưng họ lại muốn thể hiện sức mạnh quân sự trong khu vực” - ông Willett cho biết thêm.
Tàu sân bay ngày nay cũng được nhìn theo góc độ mới về trách nhiệm mà nó đảm nhiệm. Để tiến hành những cuộc đổ bộ thì hải quân rất cần một tàu sân bay đa chức năng, hay một căn cứ không quân trên biển. Nghĩa là các tàu này không những làm sân bay cho các máy bay quân sự mà còn có thể vận chuyển được vũ khí, nhiều phương tiện phục vụ chiến tranh khác.
Chẳng hạn, Mỹ có tám tàu sân bay 41.000 tấn, mỗi tàu sân bay có khả năng chuyên chở rất nhiều máy bay và quân lính để tiến hành những cuộc đổ bộ quân sự. Tàu sân bay Mistral (Pháp), HMS Ocean (Anh) và Juan Carlos I (Tây Ban Nha) cùng có chung một đặc điểm là tàu sân bay đa năng vì chúng có thể chuyên chở các máy bay không kích, trực thăng và hàng trăm lính thủy đánh bộ để tiến hành những cuộc đổ bộ quân sự.
“Tàu sân bay còn có thể phục vụ nhiều mục đích chứ không riêng gì mục đích chiến tranh”, theo Nate Hughes. Vì thế hải quân Mỹ đã lên kế hoạch xây dựng siêu tàu sân bay Gerald R. Ford, với chi phí lên đến khoảng 9 tỉ USD. Nhiều thành viên NATO cũng đang ráo riết chuẩn bị đóng thêm. Anh hiện đang đóng hai tàu sân bay, còn Pháp đang cân nhắc đóng thêm một tàu sân bay thứ hai. Ý và Tây Ban Nha vừa mới cho ra lò hai tàu sân bay.
Trung Quốc và Ấn Độ cũng đang trong quá trình thu thập và tân trang những tàu sân bay của Nga. Ấn Độ hiện đang đóng một tàu quân sự tại chính nước này. Nga sẽ tân trang tàu sân bay Đô đốc Kuznetsov vào năm tới để kéo dài tuổi thọ tàu đến năm 2030, và lên kế hoạch mua tàu sân bay của Pháp. “Hải quân các nước BRIC (Brazil, Ấn Độ, Nga, Trung Quốc) nói chung đang đầu tư nhiều vào các tàu sân bay” - theo ông Willett.
Thời Báo Toàn Cầu của Trung Quốc đăng tải kết quả khảo sát cho thấy 80% người dân Trung Quốc tin rằng tàu sân bay Varyag (hay còn gọi là Thi Lang) sẽ trở thành đòn bẩy hữu hiệu gia tăng sức mạnh quân sự và khả năng phòng thủ trên biển.
Duy Phúc
(Báo Tuổi Trẻ, 10.5.2011)
9.5.11
Nguy cơ "hạ cánh" của F-35 Lightning II
Tổng chi phí tăng
Chiếc F-35 Lightning II được Mỹ thiết kế với quan điểm là nó phải có giá thành và giá bán rẻ hơn so với chiếc tiêm kích thế hệ thứ 5 là F-22 Raptor. Tuy thế, theo thời gian, F-35 ngày càng đòi hỏi chi phí tài chính nhiều hơn. Theo đánh giá mới nhất của Bộ Quốc phòng Mỹ, để vận hành 2.443 chiếc F-35 trong vòng 30 năm cần đến 1.000 tỉ USD.
Đánh giá nêu trên được nhóm nghiên cứu độc lập thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ tiến hành và gửi cho Quốc hội Mỹ ngày 15.4.2011. Các nhà phân tích đã đưa ra bảng so sánh chi phí vận hành loại F-35 cùng các loại tiêm kích khác như F-16 Fighting Falcon, F/A-18 Hornet và AV-8B Harrier. 1.000 tỉ USD chỉ là chi phí vận hành, còn để mua 2.443 chiếc F-35 còn phải chi 382 tỉ USD nữa.
F-35 Lightning II - Ảnh: Reuters
Theo các nhà phân tích của Bộ Quốc phòng Mỹ, mỗi chiếc F-35 có thể thực hiện 8.000 giờ bay. Với mỗi binh chủng như không quân, hải quân, thủy quân lục chiến đều có thiết kế riêng chiếc F-35 cho phù hợp với yêu cầu. Dự kiến chiếc tiêm kích cuối cùng loại này sẽ được bàn giao cho quân đội vào năm 2035.
Bên cạnh đó, không lực và hải quân Mỹ đang dự kiến vào năm 2016 sẽ tiếp nhận những chiếc F-35 đầu tiên. Như vậy là sớm hơn 2 năm trước khi hoàn tất việc thiết kế, thử nghiệm và chính thức sản xuất hàng loạt F-35. Điều này đồng nghĩa với thời hạn vận hành chiếc F-35 sẽ là từ năm 2016 đến năm 2046. Trong năm nay, cơ sở quân sự Eglin, bang Florida sẽ tiếp nhận 20 chiếc F-35 và như vậy đến năm 2040 những chiếc tiêm kích này sẽ đến thời hạn "nghỉ hưu".
Một trong những nguyên nhân khiến chi phí tài chính của chiếc F-35 cao theo đánh giá của Bộ Quốc phòng Mỹ là do trong quá trình vận hành nó có một số chi tiết mau hư hỏng hơn các loại tiêm kích khác. Ngoài ra, chi phí một giờ bay cũng cao hơn. Nhưng tại sao một chiếc tiêm kích hiện đại như thế lại thường xuyên hư hỏng hơn loại tiêm kích cũ, lạc hậu hơn như F-16 hay AV-8B thì phía Mỹ không giải thích. Giá một giờ bay cũng không được thông báo cụ thể.
Theo lời Phó đô đốc David Venlet, lãnh đạo chương trình F-35, Bộ Quốc phòng Mỹ sẽ giảm chi phí thiết kế, sản xuất và vận hành chiếc tiêm kích này. Bên cạnh đó, David Venlet nhấn mạnh, đánh giá 1.000 tỉ USD nêu trên chưa chính xác và chưa phải là con số cuối cùng. Bởi, F-35 chưa hoàn tất giai đoạn thử nghiệm nên tính toán chi phí một giờ bay là chưa thể. Ngoài ra, thiết kế của nó thường có những thay đổi nhỏ nên dự báo tuổi thọ các linh kiện cũng không chính xác. Cần nhắc lại rằng, vào năm 2009, thời gian vận hành F-35 trong 30 năm khi đó tính toán chỉ mất 915 tỉ USD.
Chi phí vận hành tăng
Hiện chi phí vận hành chiếc F-35 cả Bộ Quốc phòng, cả Quốc hội Mỹ chưa chính thức khẳng định. Con số 1.000 tỉ USD là do hãng Bloomberg dẫn nguồn tin từ báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ. Bên cạnh đó, vào ngày 22.4.2011 trong cuộc tọa đàm với Phó đô đốc David Venlet, các nguồn thông tin lại đưa ra chi phí vận hành F-35 không giống với đánh giá của Bộ Quốc phòng và Cục Thanh tra (GAO) Mỹ. Theo website Flightglobal, chi phí vận hành là 442 tỉ USD vào năm 2002 (549,04 tỉ vào năm 2011). Trang web này khẳng định đây là con số mà ông David Venlet đưa ra ngày 22.4.2011. Như vậy nếu tính cả 382 tỉ USD để mua 2.443 chiếc F-35 và 56 tỉ chi phí thiết kế thì tổng chi phí sẽ là 987 tỉ USD cho toàn bộ chương trình.
Về phía mình, hãng Reuters tham dự cuộc tọa đàm cho rằng, chi phí vận hành F-35 là 443 tỉ USD (nhưng không nói rõ đó là tính theo năm nào). Tựu trung cả Bloomberg, Flightglobal và Reuters đều có những tính toán sai lệch ở một điểm nào đó.
Trước đó, vào tháng 5.2009, GAO đánh giá chi phí mua 2.456 chiếc F-35 (không phải 2.443 chiếc như Bộ Quốc phòng Mỹ dự kiến) tiêu tốn 300 tỉ USD. Còn chi phí vận hành (kể cả bảo dưỡng, thay thế phụ tùng, nâng cấp) là 760 tỉ USD. Giờ đây chi phí mua F-35 đã tăng từ 300 lên 382 tỉ USD và như thế các chi phí khác cũng sẽ tăng.
Lãnh đạo không quân thuộc hạm đội Mỹ cho biết con số cụ thể hơn. Chẳng hạn một giờ bay của F-35 là 30,7 nghìn USD (một giờ bay của F/A-18 hay AV-8B xấp xỉ 19 nghìn USD). Như vậy, nếu mỗi chiếc F-35 thực hiện 8.000 giờ bay thì chi phí vận hành cho 2.443 chiếc F-35 sẽ là 600 tỉ USD. Còn nếu tính cả bảo dưỡng, nâng cấp, số tiền sẽ tăng vào khoảng 800 - 900 tỉ USD.
Giá bán tăng
Chương trình F-35 bắt đầu khởi động vào năm 1996 dưới tên gọi Joint Strike Fighter (JSF), nhưng chỉ thực sự tiến hành vào năm 2001 khi mà hãng Lockheed Martin ký hợp đồng với Bộ Quốc phòng Mỹ. F-35 dự kiến sẽ thay thế cho các loại tiêm kích đang lạc hậu là F-16, A-10 Thunderbolt II, F/A-18 Hornet (không tính Super Hornet) và AV-8B. Và được kỳ vọng sẽ rẻ hơn chương trình F-22 Raptor.
Theo đánh giá của GAO, toàn bộ chương trình thiết kế và mua F-22 chỉ là 77,4 tỉ USD (giá một chiếc F-22 vào năm 2010 là 411,7 triệu USD). Không lực Mỹ đã nhận 166/187 chiếc F-22 đặt hàng. Số còn lại sẽ được hoàn tất trong vòng vài năm tới. Vào tháng 7.2009, lãnh đạo không lực Mỹ thông báo, một giờ bay của F-22 tiêu tốn 44 nghìn USD. Cũng vào thời điểm này, GAO cho biết giá F-35 là 115,5 triệu USD/chiếc (năm 2008 là 101,7 triệu USD). Với chi phí ngày một tăng cao, GAO dự báo vào năm 2016, trung bình giá bán của 1 chiếc F-35 sẽ là 142,5 triệu USD. Cụ thể: không lực Mỹ mua loại F-35A với giá 121,4 triệu USD, hải quân Mỹ - loại F-35C với giá 145 triệu USD/chiếc, còn thủy quân lục chiến loại F-35B với giá 161 triệu USD/chiếc.
Dù vậy, vài chuyên gia quân sự Mỹ cho rằng, giá bán F-35 rất có thể giống trường hợp chiếc F-22. Chiếc F-22 lúc đầu bán với giá 150 triệu USD/chiếc, nhưng đến năm 2010 đã là 411,7 triệu USD/chiếc. Đó là chưa kể chiếc F-35 hiện có nhiều điểm cần khắc phục, luôn chậm trễ, không thực hiện đúng lịch trình thử nghiệm. Nếu như các sự cố luôn xảy ra và kéo dài, thì rất có thể chương trình F-35 sẽ bị đóng lại vào năm 2013.
---
Bộ Quốc phòng Mỹ đến nay vẫn chưa đưa ra chính xác tiến độ sản xuất loại F-35 vì thời hạn liên tục bị kéo dài. Theo số liệu hiện có, đến năm 2016, dự kiến quân đội Mỹ sẽ nhận bàn giao 325/2.443 chiếc đặt mua. Về lý thuyết, nếu như việc sản xuất F-35 bắt đầu từ năm 2018 và hoàn tất vào năm 2035, trung bình mỗi năm Mỹ cần sản xuất 124 chiếc.
Ngữ Tử Yên
(Báo Thanh Niên Tuần san)
“Cuộc chiến” của xe tăng Nga
Những trái đắng đầu tiên
Vào ngày 14.4.2011, Phó giám đốc Trung tâm Phân tích Chiến lược và công nghệ Nga - ông Konstantin Makienko phát biểu: Một trong những nguyên nhân khiến Nga mất vị trí số 1 trong xuất khẩu xe tăng là do trang thiết bị đang trở nên lạc hậu và không có sự mềm dẻo trong việc điều chỉnh thị trường. Xuất khẩu xe tăng Nga, trong đó chủ yếu là loại T-90 tăng trưởng trong vài năm gần đây là do nhu cầu thị trường từ Ấn Độ và Algeria. Ngoài hai quốc gia này, Nga chưa cho thấy ưu thế hơn hẳn của mình so với các đối thủ ở những nơi khác.
Loại T-90S diễu hành tại Ấn Độ - Ảnh: tank-t-90.ru
Xuất khẩu tăng của Nga trong những năm qua quả là ấn tượng. Từ năm 2006 đến 2009, theo đánh giá của Trung tâm Phân tích mua bán vũ khí quốc tế, Nga bán được 482 chiếc tăng với tổng giá trị 1,57 tỉ USD. Vị trí thứ 2 thuộc về Đức với 292 chiếc (3,03 tỉ USD) và Mỹ là 209 chiếc (1,5 tỉ USD). Nhìn vào doanh số bán hàng, có thể thấy Nga chiếm ưu thế vì giá bán khá rẻ.
Dự báo sơ bộ trong những năm 2010 - 2013, lượng xuất khẩu xe tăng Nga trên thế giới sẽ tăng lên 859 chiếc, đạt tổng giá trị 2,75 tỉ USD. Đây là con số được thực hiện theo các hợp đồng quân sự giữa Nga với vài quốc gia cũng như thỏa thuận chuyển giao quyền sản xuất cho đối tác. Trong đó Ấn Độ là bạn hàng lớn nhất của Nga.
Bộ binh Ấn Độ có kế hoạch sẽ trang bị khoảng 2.000 chiếc tăng T-90. Trong đó 310 chiếc loại này Ấn Độ đã nhận theo hợp đồng được ký kết từ năm 2001. Đến năm 2007 đất nước đông dân thứ hai thế giới lại nhận thêm 347 chiếc. Còn từ năm 2014 đến năm 2019, Ấn Độ sẽ mua thêm 600 chiếc T-90S nữa.
Tăng PT-91M của Ba Lan tại Malaysia - Ảnh: klsreview.com
Về phía mình, từ năm 2006 đến 2009, thông qua Ấn Độ, Nga còn bán tăng cho Algeria, Ajerbaizan, Síp, Uganda và Turkmenistan. Những quốc gia này mua tổng cộng 413 tăng các loại T-55, T-72M1M, T-80U và T-80S. Một số tăng đã được chuyển giao cho các khách hàng này.
Sau khi kết thúc hợp đồng với Ấn Độ và Algeria, Nga hầu như sẽ không còn những khách hàng lớn, vì thế lượng xe tăng và vũ khí khí tài xuất khẩu nhiều khả năng sẽ giảm. Ngoài ra, ngành công nghiệp quốc phòng Nga khá chậm trễ trong việc thiết kế các mẫu tăng mới và cả trong nâng cấp, cải tiến các loại tăng hiện hành. Trong khi đó, các quốc gia khác rất tích cực hoàn thiện các loại tăng của Liên Xô trước đây và đang trở thành đối thủ cạnh tranh với các nhà sản xuất tăng Nga.
Theo lời ông Konstantin Makienko, ngay cả loại tăng VT1A của Trung Quốc cũng "qua mặt" chiếc T-90 để thâm nhập thị trường Ma-rốc. Bộ Quốc phòng quốc gia châu Phi này đã đặt mua của Trung Quốc 150 tăng VT1A. Quả là trái đắng đối với Nga, vì VT1A chính là chiếc tăng được cải tiến trên nền tảng loại T-72 của Nga và có tính năng tương đương với chiếc T-80UM2 của Nga.
Ngoài ra, Trung Quốc đang tích cực mời chào xuất khẩu loại tăng giá rẻ T96 và trong tương lai gần sẽ có thêm loại T99 thiết kế dựa trên chiếc VT1A/MBT 2000. Tựu trung, Trung Quốc hoàn toàn có thể đáp ứng các nhu cầu. Nếu muốn tăng rẻ, xin mời mua VT1A hay loại T96, còn muốn chất lượng hơn, xin mời mua T99. Tất cả đều tuân theo quy luật thị trường.
Thực tế, xe tăng Nga hiện nay vẫn đáp ứng các chuẩn hiện đại, nhưng nếu không liên tục đầu tư, loại vũ khí này sẽ lạc hậu với thời cuộc. Những tín hiệu đầu tiên như thế đã xuất hiện từ lâu. Ngoài Ma-rốc, Nga còn thua Ba Lan trong cung cấp tăng cho Malaysia. Đấy là vào năm 2002, Bộ Quốc phòng Malaysia đặt mua 48 chiếc tăng PT-91M do Ba Lan sản xuất. Đáng nói là RT-91M cũng được thiết kế dựa trên nguyên mẫu chiếc T-72.
Mới đây nhất, vào tháng 3.2011, lãnh đạo bộ binh Thái Lan đã quyết định mua 200 chiếc tăng T-84U do Ukraine sản xuất với tổng giá trị là 231,1 triệu USD. Quyết định này đưa ra sau khi Thái Lan mở cuộc đấu thầu mà trong đó có chiếc T-90S của Nga tham gia. Chiếc T-90S có tính năng vượt trội so với chiếc T-84U nhưng nó vẫn bị thua tại thị trường Thái Lan. Ngoài các yếu tố về kỹ thuật, giá bán… thì Thái Lan lâu nay đã mua vũ khí của Ukraine. Vào năm 2007, nước này mua của Ukraine 96 chiếc thiết giáp loại BTR-3E1 và đến cuối năm 2010 còn muốn mua thêm 121 chiếc nữa.
Tăng T-90A của Nga - Ảnh: topwar.ru
Cần sự bứt phá
Vào đầu năm 2011, Cơ quan xuất khẩu vũ khí Nga (Rosoboronexport) thông báo: Ả Rập Xê-út đang thử nghiệm các loại tăng: T-90 (Nga), Leclerc (Pháp), M1A1 Abrams (Mỹ) và Leopard 2A6 (Đức). Trong khoảng thời gian 10 ngày, các loại tăng nêu trên chạy 1.300 km trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt và bắn thử các loại đạn. Kết quả là T-90 thắng, còn các loại tăng khác không hoàn thành nhiệm vụ đề ra.
Tuy nhiên với khách hàng không phải là truyền thống như Ả Rập Xê-út, thì chiếc T-90 còn cần các điều kiện khác để thắng thầu. Đó là chất lượng và giá bán. Về hai điểm này chưa có loại tăng cạnh tranh nào có thể so với T-90. Thử làm phép so sánh: T-90A (loại xuất khẩu) có giá từ 2 - 2,5 triệu USD/chiếc. Rẻ hơn chỉ có chiếc VT1A (Trung Quốc) từ 1,4 - 1,8 triệu USD. Chiếc PT-91M của Ba Lan giá từ 2,7 - 3 triệu USD, còn T-84U của Ukraine từ 2,5 - 4 triệu USD. Tuy nhiên cũng tính đến chuyện nếu khách hàng mua thường xuyên và mua nhiều sẽ được giảm giá. Vì thế Thái Lan mua T-84U chỉ với giá 1,2 triệu USD/chiếc.
Trong tình thế đó, ông Konstantin Makienko cho rằng, Nga phải tạo ra những bước đột phá lớn về chất lượng. Cần phải nhanh chóng đưa hai loại T-90A và T-90AM cải tiến ra thị trường vũ khí quốc tế. Bởi đây là hai loại tăng được trang bị hệ thống nạp đạn pháo tự động, thấu kính quan sát tối tân, vỏ bọc cũng tối ưu…
Ngoài ra, hiện Nga còn có chiếc T-95, chế tạo hoàn toàn mới, từ thiết kế chỗ ngồi riêng cho ê-kíp lái, hệ thống quan sát và hệ thống điều khiển vũ khí hiện đại, động cơ mới… Tuy vậy, vào năm 2010, Bộ Quốc phòng Nga ngừng tài trợ cho chương trình này với lý do giá thành quá đắt và các giải pháp kỹ thuật là khá phức tạp.
Mặc dù vậy, ông Oleg Shilenko - Giám đốc "Uralvagonzavod", hãng chế tạo chiếc T-95 tuyên bố vẫn tiếp tục bỏ tiền của hãng này để cải tiến thêm chiếc T-95. Ông Oleg Shilenko nói: "Mọi việc đang thuận lợi hơn là khó khăn". Cũng trong năm 2010, đã có tin đồn là để thay thế chiếc T-95, một chiếc tăng mang code "Armata" sẽ được thiết kế đơn giản với giá thành rẻ hơn và vẫn kế thừa hàng loạt các yếu tố kỹ thuật của T-95. Nếu đúng như thế, "Armata" sẽ được đưa vào chương trình quốc phòng Nga từ 2011 - 2020.
Ngoài ra, còn một giải pháp mà Nga mới bắt đầu tiến hành để giữ vững thị phần xuất khẩu xe tăng nói riêng cũng như vũ khí nói chung của mình. Đó là liên doanh với một quốc gia khác để cùng thiết kế, sản xuất vũ khí. Vừa đáp ứng nhu cầu nội địa, vừa phục vụ cho xuất khẩu. Nga và Ấn Độ hiện hợp tác trong sản xuất tên lửa hành trình "BraMos" và máy bay tiêm kích FGFA. Về lý thuyết có thể hợp tác sản xuất xe tăng, xe thiết giáp, hệ thống tên lửa đạn đạo, trực thăng… Nhưng điều chính yếu là cần thực hiện nhanh chóng để chiếm lĩnh thị trường.
Ngữ Tử Yên
(Báo Thanh Niên Tuần san)
20.4.11
Vì sao F-22 không tham chiến ở Libya?

Ngay sau khi không tiếp tục tham chiến ở Libya, Mỹ đã lên tiếng giải thích vì sao chiếc tiêm kích thế hệ thứ 5 đầu tiên của thế giới là F-22 Raptor không tham gia chiến dịch Bình minh Odyssey. Điều đáng ngạc nhiên là không ai đòi hỏi Mỹ phải giải thích như vậy.
Chiến dịch Bình minh Odyssey của phương Tây bao gồm Anh, Pháp, Mỹ, Ý, Canada, tiến hành đối với Libya bắt đầu vào ngày 19.3.2011. Trong đó không lực chủ yếu sử dụng các loại tiêm kích F-15 Eagle, F-16 Fighting Falcon, Dassault Rafale và Panavia Tornado GR4.
Trái với sự chờ đợi của nhiều nhà phân tích quân sự, chiếc F-22 Raptor đã không tham dự vào chiến dịch chống Libya. Vào ngày 22.3.2011, nhà phân tích Lauren Thompson thuộc Viện nghiên cứu Lexington, Mỹ, cho rằng: chiếc F-22 dù được trang bị 2 trái bom JDAM loại 450 kg, nhưng lại không thể tiêu diệt các mục tiêu di động. Ngoài ra, radar của chiếc máy bay hiện đại này không thể tự xác định mục tiêu như radar của một số loại tiêm kích khác. Vì thế nó không thể tự tìm, xác định và tiêu diệt mục tiêu. Như vậy với hệ thống radar như hiện nay, nếu tham chiến, F-22 cần phải có dữ liệu về mục tiêu dự tính tiêu diệt được cài đặt sẵn trong bộ máy tính chứa đựng thông tin chỉ huy trước khi cất cánh.
Hệ thống thông tin liên lạc của chiếc máy bay hiện đại bậc nhất này còn rất hạn chế, khi nó chỉ có thể kết nối liên lạc cùng với chiếc máy bay F-22 khác trong phi đội bay cùng với nó. F-22 có hệ thống thông tin chuẩn loại Link 16, được sử dụng khá rộng rãi trong quân đội Mỹ và khối NATO, nhưng nó chỉ có thể tiếp nhận thông tin từ các máy bay khác mà không thể sử dụng để truyền thông tin. Đây là hệ quả của việc các kỹ sư thiết kế Mỹ muốn F-22 hạn chế thông tin liên lạc để nâng cao tính "tàng hình" của nó.
Về phía mình, vào cuối tháng 3.2011, lãnh đạo không lực Mỹ, tướng Norton Schwartz cho biết do các căn cứ của F-22 nằm xa Libya, nên phía Mỹ không điều động loại tiêm kích này tham gia Chiến dịch Bình minh Odyssey. Norton Schwartz nói: "Nếu như F-22 có tại một căn cứ nào đó của châu Âu, chắc chắn nó sẽ tham dự chiến dịch ở Libya. Hơn nữa, chiến dịch được tiến hành nhanh chóng, nên không cần thiết phải sử dụng các nguồn lực từ xa". Hiện F-22 có ở các căn cứ quân sự tại Virginia, New Mexico, California, Florida, Alaska và Hawaii của Mỹ. Schwartz nhấn mạnh: "F-22 không tham chiến không có nghĩa là nó không hữu dụng".
Tướng Norton Schwartz cũng giải thích, vì sao trong năm 2010, không lực Mỹ không nâng cấp hệ thống thông tin liên lạc cho F-22 như chương trình Increment 3.2 đã định ra. Theo ông Schwartz, dự kiến F-22 sẽ lắp đặt hệ thống thông tin chuẩn MADL, loại được sử dụng cho chiếc F-35 Lightning II. Tuy vậy, do MADL là loại mới, chưa được kiểm tra trên thực tế, nên lắp đặt cho F-22 là mạo hiểm và tốn thêm chi phí. Nghe lời giải thích của ông Schwartz, cựu lãnh đạo bộ phận tình báo không lực Mỹ - ông David Deptula, đã phản ứng dữ dội. Theo Deptula, nếu không lắp đặt MADL cho F-22 thì quả là vô ý nghĩa khi "chiếc tiêm kích hiện đại nhất thế giới" lại không thể trao đổi thông tin với các máy bay khác.
David Deptula phản ứng là có lý do. Bởi để chiếc F-22 có thể liên lạc thông tin với các máy bay khác, kể cả trực thăng và bộ binh trên mặt đất, không lực Mỹ buộc phải thành lập trạm thông tin đặc biệt trên không. Trạm này bao gồm máy bay không người lái RQ-4 Global Hawk Block 20 làm cầu nối thông tin của chiếc F-22 đến với các loại máy bay và trực thăng có lắp đặt hệ thống Link 16. Hình thức liên lạc thông tin này chỉ áp dụng cho các chiến dịch lớn và chưa một lần được tiến hành trên thực tế.
Cần nhắc lại là chiếc F-22 được biên chế vào quân đội Mỹ vào năm 2005. Từ đó đến nay nó chưa hề tham gia một chiến dịch quân sự nào bên ngoài nước Mỹ. Vì thế, F-22 trên thực tế chưa chứng minh được tính ưu việt của nó.
Một động thái khác làm xấu hình ảnh chiếc F-22, là vào tháng 3.2011, không lực Mỹ ra lệnh hạn chế trần bay của nó chỉ là 7,6 nghìn mét. Trong khi đó thiết kế kỹ thuật chiếc tiêm kích hiện đại này có trần bay là 19,8 nghìn mét. Nguyên nhân là do cần phải kiểm tra lại hệ thống ô-xy (OBOGS) trên khoang máy bay, được lắp đặt cho nhiều loại tiêm kích của Mỹ.
Theo không lực Mỹ, OBOGS có thể có lỗi. Việc chiếc F-22 rơi vào ngày 17.11.2010, tại Alaska có thể là do lỗi của OBOGS khiến phi công điều khiển hôm ấy Jeffrey Haney thiếu ô-xy thở và dẫn đến bị ngất. Việc hạn chế trần bay là có lý do. Bởi ở độ cao 15 nghìn mét, nếu phi công không được truyền ô-xy vào mặt nạ mà anh ta đeo, thì trong vòng 10 giây (trước khi bị ngất), máy bay không kịp hạ xuống độ cao 5,4 nghìn mét để có thể thở mà không cần đến mặt nạ. Còn ở trần bay 7,5 nghìn mét thì điều này có thể thực hiện được.

Trước đó, vào năm 2009, không lực Mỹ đưa 12 chiếc F-22 đến căn cứ quân sự ở Alaska để thử nghiệm. Nhưng do thời tiết mưa nhiều nên sự thử nghiệm không đạt yêu cầu. Hóa ra, với độ ẩm cao, hệ thống điện tử của máy bay hoạt động không ổn định, còn hệ thống làm mát các thiết bị máy tính lại "chết" hẳn. Đến nay chưa có thông tin phía Mỹ đã khắc phục các điểm này hay chưa. Nhưng từ đó đến nay chiếc F-22 đã không cất cánh trong điều kiện thời tiết có độ ẩm cao.
Vào tháng 2.2007, không lực Mỹ quyết định lần đầu tiên đưa F-22 ra khỏi lãnh thổ Mỹ. 6 chiếc F-22 cất cánh từ quần đảo Hawaii đến căn cứ không quân tại đảo Okinawa của Nhật Bản. Khi bay qua kinh tuyến 180 độ (ranh giới hai bán cầu và là mốc thay đổi thời gian), toàn bộ hệ thống định vị và một phần hệ thống thông tin không hoạt động. Vì thế cả 6 chiếc F-22 phải bám đuôi chiếc máy bay tiếp xăng trên không quay về Hawaii. Đây là lỗi chương trình khiến hệ thống computer không hoạt động khi thay đổi thời gian.
Những lỗi kỹ thuật nêu trên được không lực Mỹ công bố. Không loại trừ còn những lỗi khác của F-22 mà lực lượng này muốn che giấu. Nhưng việc phía Mỹ bỗng dưng lên tiếng biện minh cho việc F-22 không tham chiến Libya là "điều không thể hiểu được" đối với một số chuyên gia quân sự. Bởi với các chiến dịch ở Iraq hay Afghanistan, chiếc F-22 cũng vắng bóng mà phía Mỹ không có động thái như trên. Cũng có thể do giá bán quá đắt, mà Mỹ cho rằng không cần thiết phải sử dụng F-22 vào những chiến dịch mà các loại tiêm kích khác có thể thực thi nhiệm vụ. Ngày 31.3.2011, phía Mỹ vừa công bố giá bán một chiếc F-22 giờ đã là 411,7 triệu USD. Quân đội Mỹ đã đặt mua 187 chiếc F-22, 170 chiếc trong số này đã được biên chế vào quân đội nước này.
Vài thông số kỹ thuật của F-22 Rapor
Tổ lái: 1 người
Chiều dài thân: 18,9m
Chiều dài sải cánh: 13,56m
Trọng lượng: 19,7 tấn
Trọng tải: 38 tấn
Động cơ 2 P&W F-119-PW-100
Tốc độ cao nhất: 2.500 km/giờ
Tốc độ hành trình: 1.500 km/giờ
Tầm bay: 769 km
Trần bay: 19,8 nghìn mét
Vũ khí: súng 20 ly, có thể mang 6 tên lửa không đối không hoặc 2 trái bom loại JDAM. Có 4 điểm treo 2,3 tấn vũ khí trên hai cánh.
(Báo Thanh Niên Tuần san số 255)
16.4.11
Tàu sân bay Trung Quốc mạnh tới đâu?
Giới chuyên gia nhận định tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc không có nhiều ảnh hưởng và phải mất nhiều thời gian nữa mới có thể hoạt động.
Hôm 6.4, 20 bức ảnh về chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc xuất hiện trên wesbite của Tân Hoa xã. Chú thích dưới một trong số những bức ảnh viết rằng công trình hoàn thiện tàu sân bay Varyag được Trung Quốc mua từ Ukraine vào năm 1988 sắp được hoàn tất, trừ hệ thống radar. Tờ South China Morning Post (SCMP) dẫn lại chú thích cho một trong số bức ảnh trên: "Ước mơ 70 năm về tàu sân bay của Trung Quốc sắp trở thành sự thật". Một chú thích khác ghi: "Cách đây vài ngày, các diễn đàn quân sự trong nước liên tục đăng các bức ảnh về tàu sân bay Varyag đang được xây dựng tại Hãng tàu Đại Liên. Từ những bức ảnh, chúng ta có thể thấy dự án hoàn thiện con tàu đang đi vào giai đoạn cuối".
Đây là lần đầu tiên truyền thông Trung Quốc chính thức đưa tin ảnh về dự án tàu sân bay đầu tiên của nước này cũng như nói rõ dự án đang được tiến hành tại cảng Đại Liên, tỉnh Liêu Ninh. Ông Andrei Chang, Tổng biên tập Tạp chí quốc phòng châu Á Kanwa ở Canada và là người theo dõi dự án tàu sân bay của Trung Quốc trong 20 năm qua, cho hay tất cả hình ảnh về con tàu trên Tân Hoa xã là những bức ảnh mới nhất mà ông biết và chúng cho thấy tiến trình xây dựng con tàu nhanh hơn ông dự đoán. Ông cho biết thêm hồi tháng 2, tạp chí của ông đã nhận được nhiều bức ảnh về Varyag và chúng cho thấy cấu trúc phần trên của con tàu chưa được sơn, còn trong những bức ảnh của Tân Hoa xã thì phần sơn đó đã hoàn tất. "Tốc độ rất nhanh. Tôi rất ngạc nhiên", ông Chang nhận định.
Lịch sử tàu sân bay Trung Quốc
Varyag là một trong 2 tàu sân bay thuộc lớp Đô đốc Kuznetsov do hãng tàu Nam Nikolayev của Liên Xô đóng. Tàu lớp Đô đốc Kuznetsov được phân loại là tuần dương hạm mang máy bay hạng nặng, hay nói cách khác, đây là tàu sân bay lai tuần dương hạm. Hiện Hải quân Nga có một chiếc duy nhất thuộc loại này chính là tàu sân bay Đô đốc Kuznetsov.
Theo trang tin Military-heat.com, tàu sân bay lớp Đô đốc Kuznetsov của Nga dài 302,3m và rộng 72,3m, với trọng tải 58.600 tấn. Vận tốc cao nhất là 56 km/giờ và hải trình tối đa là 8.500 km. Thủy thủ đoàn có 1.500 thành viên và tàu mang được từ 41-52 máy bay. Tàu còn được trang bị súng AK-630, hệ thống pháo-tên lửa phòng không Kashtan, tên lửa hành trình chống hạm P-700 Granit và hệ thống tên lửa phòng không đất đối không 3K95 Kinzhal SAM VLS và các bệ phóng rốc-két RBU-12000 UDAV-1 ASW. Trong khi đó, tàu Varyag được thiết kế với chiều dài 300m, chiều rộng 73m, trọng tải 67.500 tấn, vận tốc 59 km/giờ và hải trình tối đa 7.130 km. Tàu có thể chứa thủy thủ đoàn 1.960 người, 50 máy bay và cũng sẽ được trang bị các loại vũ khí tương tự như trên.
Dự án đóng tàu Varyag bắt đầu năm 1985 nhưng bị dừng lại vào năm 1992 sau khi Liên Xô tan rã. Khi đó, công trình đã hoàn tất hơn 60% và Nga giao Varyag cho Ukraine. Sau đó, con tàu này không được bảo trì, nhiều phần bị tháo dỡ như bánh lái và hệ thống vận hành, theo trang tin Asia Times online. Đến năm 1998, Ukraine bán đấu giá Varyag và một công ty ở Hồng Kông đã bỏ ra 20 triệu USD để mua con tàu này với ý định biến nó thành một sòng bạc nổi ở Macau. Tuy nhiên, Macau không phải là điểm dừng chân cuối cùng của Varyag sau khi được đưa về Trung Quốc. Vào năm 2005, tàu được đưa đến cảng Đại Liên, cũng là nơi đóng trụ sở của Học viện Quân sự quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA). Tại đây vào năm 2008, nhóm binh sĩ đầu tiên bắt đầu tham gia chương trình huấn luyện trở thành phi công lái máy bay tác chiến cho tàu sân bay, theo Asia Times online.
Sau thời gian nằm tại Đại Liên, Varyag được sơn theo màu xanh xám nhạt của PLA, theo một diễn đàn quân sự của tờ Global Times. Số liệu về kích thước và thủy thủ đoàn của Varyag được đưa ra trên webiste này cũng khác với số liệu ban đầu. Theo đó, chiều dài là 291,6m, chiều rộng 71m, trọng tải 65.000 tấn và thủy thủ đoàn là 2.500 người. Tuy nhiên, chưa có nguồn nào khác chứng thực những con số này. Ngoài ra, Varyag dự kiến đổi thành Thi Lang, tên một đô đốc nhà Minh đầu hàng nhà Thanh và giúp nhà Thanh chinh phục đảo Đài Loan vào năm 1681.
"Biểu tượng là chính"
Chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ, đô đốc Robert Willard, cho rằng tàu sân bay Varyag của Trung Quốc có thể bắt đầu chạy thử vào mùa hè năm nay, theo AP. Trong cuộc điều trần trước Ủy ban Quân sự Thượng viện Mỹ hôm 12.4, ông Willard đánh giá việc Trung Quốc triển khai tàu sân bay sẽ dẫn đến sự thay đối đáng kể về quan niệm cân bằng quyền lực trong khu vực. Tuy nhiên, đô đốc Mỹ xem tác động của tàu sân bay Varyag chỉ mang tính biểu tượng về sự gia tăng sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Ông lập luận rằng Bắc Kinh phải mất một thời gian dài để huấn luyện, phát triển, diễn tập thì con tàu mới có thể đi vào hoạt động chính thức. Tổng biên tập Chang của Tạp chí Kanwa thì cho rằng: "Sau khi chạy thử trên biển, tàu Varyag phải cần ít nhất 8 năm để kiểm tra radar và các loại vũ khí, trong đó có máy bay tác chiến J-15".
Chuyên gia John Pike của webiste phân tích quân sự Globalsecurity.org thì nhận định với Asia Times online rằng chỉ một tàu sân bay không thể tạo ra ảnh hưởng lớn. Ông Pike lập luận: "Nhiều nước khác như Thái Lan và Brazil cũng có một tàu sân bay nhưng hầu như không tạo được khác biệt gì". Chuyên gia Oliver Brauner tại Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm cũng cho rằng sự xuất hiện tàu sân bay của Trung Quốc sẽ không làm thay đổi cân bằng quân sự tại eo biển Đài Loan. Bản thân một chuyên gia (giấu tên) tại Viện Nghiên cứu Hải quân Trung Quốc cũng nhận xét với Global Times: "Dù Trung Quốc có hoàn thiện chiếc tàu sân bay mua từ Ukraine, công nghệ của nó vẫn lạc hậu so với các tàu của các nước khác như Mỹ về phương diện chức năng lẫn trang bị".
---
Lợi thế tàu sân bay
Tàu sân bay là một loại tàu chiến được thiết kế với nhiệm vụ chủ yếu là điều động máy bay tác chiến, có chức năng như một căn cứ không quân trên biển. Do đó, tàu sân bay cho phép một lực lượng hải quân triển khai không lực khắp thế giới mà không phải lệ thuộc vào các căn cứ gần đó. Các tàu sân bay thường được hộ tống bởi nhiều tàu khác trong một hạm đội, cung cấp hậu cần, tăng khả năng phòng thủ cũng như tấn công.
Các nước lớn đã từng sử dụng tàu sân bay trong nhiều cuộc chiến trước đây. Đầu Thế chiến 2, Hải quân Anh có ưu thế do có nhiều tàu sân bay trong khi Đức và Ý không có chiếc nào. Nhật có thể tấn công bất ngờ vào Trân Châu Cảng được cho là nhờ có một lực lượng tàu sân bay hiện đại. Vào năm 1982, Anh đã đưa 2 tàu sân bay HMS Hermes và HMS Invincible tham gia cuộc chiến Falklands/Malvinas với Argentina. Nhờ vào lợi thế này, Anh đã chiến thắng trong một cuộc xung đột cách nước này tới 13.000 km. Tàu HMS Hermes được bán cho Ấn Độ vào năm 1986 và nay là tàu sân bay duy nhất của nước này với tên INS Viraat. Tại Thái Bình Dương, tàu USS George Washington của Mỹ luôn xuất hiện tuần tra hoặc tham gia tập trận chung với Hàn Quốc và Nhật Bản mỗi khi các "điểm nóng" tại Hoàng Hải, biển Hoa Đông hay eo biển Đài Loan "dậy sóng".
Theo website chuyên về thông tin hải quân Hazegray.org, hiện có 9 nước có tàu sân bay đang hoạt động, gồm Mỹ (11 tàu), Nga (1), Pháp (1), Anh (1), Brazil (1), Ý (2), Tây Ban Nha (2), Ấn Độ (1), Thái Lan (1).
---
So sánh tàu sân bay Trung Quốc - Mỹ
Tàu Varyag Hãng đóng tàu: Nam Nikolayev Lớp và kiểu: hàng không mẫu hạm lớp Đô đốc Kuznetsov Dài: 291,6m Rộng: 71m Trọng tải: 65.000 tấn Động cơ đẩy: chưa có thông tin về độngcơ mới Tốc độ: 59 km/giờ Hải trình tối đa: 7.130 km Thủy thủ đoàn: 2.500 Máy bay mang theo: 50 máy bay và trực thăng Vũ trang: chưa rõ
Tàu USS George Washington Hãng đóng tàu: Northrop Grumman Shipbuilding Newport News Lớp và kiểu: hàng không mẫu hạm lớp Nimitz Dài: 332,8m Rộng: 76,8m Trọng tải: 104.200 tấn Động cơ đẩy: 2 lò phản ứng hạt nhân WestinghouseA4W, 4 tua-bin hơi nước… Tốc độ: 56 km/giờ Hải trình tối đa: không giới hạn hoặc trong 20 năm Thủy thủ đoàn: 3.200 Máy bay mang theo: 90 Vũ trang: 2 Mk 57 Mod3 Sea Sparrow, 2 RIM-116 Rolling Airframe Missile 3 Phalanx CIWS
Văn Khoa (Báo Thanh Niên, 17.4.2011)




